“Thế là Xuân đến cùng ta. Hồn nhiên như bạn cũ vào nhà”. Vậy là một năm mới tràn đầy hy vọng cùng những mơ ước đang đến rất gần. Có lẽ, bầu không khí của ngày xuân Việt Nam quả thực bao giờ cũng tươi vui, thanh bình, nhẹ nhàng và đầy quyến rũ. Mùa xuân khiến thiên nhiên là ngàn hoa tưng bừng nở, với con người là những nụ cười xinh tươi…Mùa xuân với những lời ca câu hát, mùa xuân với bánh chưng xanh thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ…

Dân tộc nào cũng có thức ăn truyền thống. Song chưa thấy dân tộc nào có một thức ăn vừa độc đáo, vừa ngon lành, vừa gắn liền với truyền thuyết dân tộc lâu đời, lại vừa có nhiều ý nghĩa sâu xa về vũ trụ, nhân sinh như bánh chưng của Việt Nam. Bánh chưng cùng với bánh dầy là thức ăn trang trọng, cao quý nhất để cúng tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ.

Bánh chưng-đậm đà bản sắc dân tộc Việt

Bánh chưng đậm đà bản sắc dân tộc ở hương vị và cả cách gói, cách luộc. Lúa gạo tượng trưng cho nền văn hóa lúa nước. Nếu Trung Quốc ưa chế biến bánh trái bằng bột mì;người Ấn Độ ưa chế biến từ kê thì người Việt ưa chế biến bánh từ lúa gạo. Bánh chưng của người Việt rất nhiều chất, ngon, bổ và độc đáo hơn nữa là được nấu trong một thời gian khá dài trên 10 tiếng. Nguyên liệu để gói bánh phải là loại gạo nếp cái hoa vàng và phải là những hạt gạo to, tròn, dẻo đều và mới thu hoạch. Đỗ xanh thường được lựa chọn công phu, để có được những chiếc bánh chất lượng nhất, người ta thường chọn loại đỗ ở vùng đồi núi trung du Việt Nam. Thịt để gói bánh phải là loại thịt ba chỉ, nửa nạc nửa mỡ. Các loại gia vị như hạt tiêu dùng để ướp thịt làm nhân. Muối dùng để trộn vào gạo, đỗ xanh và ướp thịt. Trong quá trình gói phải thật chặt tay, gói thật kín để không cho nước vào trong bánh. Lạt phải buộc thật chặt, không được lỏng lẻo để tránh làm vỡ bánh trong quá trình nấu. Đặc biệt là lá dong, phải là loại lá to bản, đều nhau, không bị rách. Nhất định phải dùng lá dong thì bánh mới có màu xanh và vị thơm đặc trưng.

Gói bánh chưng ngày tết

Nhớ ngày còn thơ bé, hàng năm cứ vào ngày 29 tết, bà nội và mẹ lại tất bật rửa lá dong, ngâm gạo, đãi đỗ. Còn lũ trẻ con chúng tôi thì háo hức ngồi xem người lớn gói bánh. Buổi tối, cả nhà tôi cùng quây quần bên bếp củi trông nồi bánh đến tận sáng. Thỉnh thoảng, bố cứ ngồi ngủ gật nhưng vẫn cố lán lại trong bếp để trò chuyện với chúng tôi. Tiếng cười nói, tiếng chuyện trò, tiếng tí tích của bếp lửa nghe thật vui tai. Chốc chốc bà nội lại ngó vào bếp và không quên dặn dò: “Các con nhớ để ý và cho nước liên tục vào nồi để bánh chóng chín và nhừ nhé”.  Chao ôi! Những kỷ niệm êm đềm ấy đến tận giờ vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí đứa con xa quê!

Bánh chưng tượng trưng cho lòng thành kính

Bánh chưng đã trở thành một nét đẹp văn hóa của người Việt Nam. Để rồi, trong mâm cơm cúng ngày tết, gia đình nào cũng dâng lên tổ tiên, cha mẹ, ông bà mình bánh chưng xanh để thể hiện lòng biết ơn của mình đối với cha ông và cả đất trời xứ sở.

Trần Nhung. tapchi-amthuc.com